(Dân trí) - Ngoại trưởng Israel Tzipi Livni đã giành chiến thắng trước đối thủ chính - cựu bộ trưởng quốc phòng Shaul Mofaz, trong cuộc bầu cử lãnh đạo của Kadima, đảng trung dung lãnh đạo liên minh chính phủ.
Bà Livni được biết đến là một chính trị gia ôn hoà và được ví như làn gió mới quan trọng thổi vào một chính phủ gắn liền với hàng loạt các cáo buộc tham nhũng nhằm vào ông Ehud Olmert. Nhưng trước mắt nữ cựu nhân viên tình báo này là các thách thức chính trị khó khăn, nặng nề.
1. Duy trì liên minh hay chấp nhận bầu cử lập pháp trước thời hạn?
Kadima, đảng do cựu thủ tướng Ariel Sharon cùng một số thành viên li khai của đảng cánh hữu Likud và vài gương mặt của đảng Lao động sáng lập, chiếm đa số tại Thượng viện (Knesset) nhưng không đủ số ghế để thành lập chính phủ nếu không liên minh với các đảng khác. Bà Tzipi Livni từng tuyên bố: “Không có lý do gì để thay đổi hiện trạng liên minh này”. Nhưng khó khăn đặt ra với nữ Thủ tướng tương lai là đảng Shas, đảng luôn yêu cầu tăng các chi phí xã hội, hy vọng chính phủ mới sẽ tăng viện trợ xã hội, đặc biệt là trợ cấp gia đình.
Trong khi đó, đảng Lao động lại coi đây “sự cưỡng ép” vì đảng Shas đe doạ không tham gia vào chính phủ tương lai nếu các yêu cầu của họ không được đáp ứng. Đảng Lao động còn kêu gọi phế truất Bộ trưởng Tư pháp Daniel Friedmann vì các ý tưởng cải tổ hệ thống tư pháp của ông này. Liệu bà Livni có coi việc thay đổi liên minh là cần thiết trong khi muốn “thành lập chính phủ mới càng nhanh càng tốt” và từng tuyên bố sẽ không làm điều đó bằng bất cứ giá nào, trong khi bà chỉ có 42 ngày để thành lập liên minh cầm quyền mới đệ trình lên Thượng viện do ông Shimon Peres làm chủ tịch? Nếu quá hạn, bà Livni sẽ phải chấp nhận tiến hành bầu cử lập pháp trước thời hạn.
Đảng Likud tuyên bố sẽ không tham gia chính phủ. Nghị sĩ Gédéon Sa’ar của đảng này cho rằng, “chính phủ do đảng Kadima đã thất bại và trong bầu cử lập pháp sắp tới, đảng này chắc chắn sẽ thất bại”. Những giới hạn chính trị và thời gian eo hẹp để thành lập một chính phủ mới là thách thức lớn nhất đối với cựu nhân viên tình báo.
2. Thời điểm nào thuận lợi cho đàm phán Israel-Palestine?
Bà Livni nắm rất rõ sức ép của chính quyền Mỹ, Washington muốn có một thoả thuận cho dù đó chỉ là trên nguyên tắc, trong đó cho phép thành lập một nhà nước Palestine độc lập bền vững trước khi Tổng thống George Bush sẽ kết thúc nhiệm kỳ vào tháng 1/2009. Nhà Trắng coi bà Livni là người có khả năng giải quyết các công việc khẩn cấp. Trong vai trò ngoại trưởng Israel, bà từng dẫn đầu đoàn đại biểu thương lượng với chính quyền Palestine tuy kết quả đạt được còn hạn chế. Bà Livni ủng hộ việc rút quân khỏi dải Gaza nhưng khi triển khai việc sơ tán các khu định cư cho người Do Thái lại gặp nhiều khó khăn về kỹ thuật cũng như chính trị.
Tiếp đó là các bất đồng với chính quyền Palestine, đặc biệt là trong vấn đề giải quyết Jerusalem mà các nhà thương thuyết Palestine coi đây là điều kiện tiên quyết. Israel chiếm Thành phố Jerusalem năm 1967 sau đó được “thống nhất” (từ mà người Israel thường dùng) vào lãnh thổ nước này với tên gọi "Yerushalayim". Người Palestine kiên quyết coi thành phố này là thủ đô nhà nước tương lai của họ.
Bà Livni cho rằng thời điểm hiện tại không thích hợp cho các cuộc thương lượng Israel-Palestine để một thoả thuận không có lợi cho tất cả các bên. Theo bà, tình hình hiện nay sau Hội nghị Annapolis không khác với tình hình năm 2000 khi phong trào Intifada lần hai bùng lên sau các thoả thuận ký tại Trại David vào cuối nhiệm kỳ của Tổng thống Bill Clinton.
Bà Livni tuyên bố: “Tôi tin rằng thời gian là rất quan trọng nhưng quan trọng hơn là nội dung và bản chất của thoả thuận mà chúng tôi có thể đạt được với người Palestine”. Sự chia rẽ giữa Fatah và Hamas tại Bờ Tây và dải Gaza đã buộc chính phủ Israel phải thận trọng. Bởi nếu Tel Aviv có được thoả thuận với chính phủ Palestine do đảng Fatah lãnh đạo, rất có thể Phong trào Hồi giáo Hamas cũng hy vọng có được một thoả thuận tương tự với Israel.
3. Lập trường đối với Syria và Iran?
Bà Livni luôn mong muốn tìm thấy một thoả thuận với chính quyền Palestine để cụ thể hoá giải pháp hai nhà nước, nhưng luôn có quan điểm cứng rắn đối với Syria và Iran. Theo phân tích được tờ Times trích dẫn: “Bà Livni nhượng bộ trong vấn đề Bờ Tây với người Palestine nhưng lại có quan điểm cứng rắn đối với Syria và Iran. Bà phản đối rút quân khỏi cao nguyên Golan và nếu trở thành Thủ tướng, bà ấy rất muốn tiến hành không kích các cơ sở hạt nhân của Tehran”.
Các chỉ trích nhằm chống lại việc rút quân khỏi cao nguyên Golan- vùng đất bị Israel chiếm đóng năm 1967 với lý do Syria hậu thuẫn quân sự cho Phong trào Hezbollah ở Libăng. Bản báo cáo của Uỷ ban Winograd lên án việc nội các của ông Olmert đã không giải quyết ổn thoả cuộc xung đột giữa IDF (các lực lượng vũ trang Israel) với lực lượng người Shiite tại nam Libăng năm 2006. Theo bà Tzipi Livni, nếu hành động vũ trang không đem lại kết quả, đối thoại với Damas là cần thiết? Tuy nhiên, “con đường giúp mang đến vị thế hoá mới cho Syria trên trường quốc tế bắt buộc phải có việc dừng cung cấp thiết bị quân sự cho Hezbollah”.
Đối với Iran, bà Livni giữ nguyên tắc và quan điểm thực dụng hơn. Năm 2007, bà khẳng định trên nhật báo Haaretz của Israel rằng tiềm lực có vũ khí hạt nhân của Iran không phải là “nguy cơ hiện hữu đối với Israel mà nó đã bị ông Olmert phóng đại lên”. Nhưng đến giữa 2008, trong chuyến thăm tới Washington, bà Livni khẳng định các lệnh trừng phạt hiện nay áp đặt đối với Iran là rất quan trọng, vì đây không chỉ là mối đe doạ riêng của Israel mà của toàn thế giới.
Về đối nội cũng như đối ngoại, chắc chắn nữ Thủ tướng tương lai của Israel sẽ phải đối mặt với các thách thức chính trị lớn để có thể cụ thể các hy vọng mà đảng Kadima đã gửi gắm vào tài năng lãnh đạo của bà.
Ngọc Nhàn
Tổng hợp